Tư vấn Đất đai

Có thể lấy lại được phần đất thừa kế đã cho trước đó không ?

Thưa Luật sư! Trước năm 1994 trên mãnh đất hiện tại mang tên ông nội tôi (có trong bản đồ 299 ở UBND xã; lúc đó bố mẹ tôi ở với ông bà ). Đến cuối năm 1994 khi bố mẹ tôi làm lại nhà và từ đó mãnh đất này lại đổi sang tên của bố tôi (có tên trong bản đồ 371) từ đó đến nay bố mẹ tôi sinh sống với ông bà nội và hàng năm vẫn đóng thuế

(vì lúc đó ở xã tôi nhiều hộ gia đình cũng vậy). Năm 1999 bà nội tôi mất; năm 2002 bố tôi có viết một tờ giấy nội dung: ông nội cho bố tôi toàn bộ đất đai nhưng cuối tờ giấy bố tôi ký tên vào chứ không phải ông nội vì lúc đó ông nội bị mù (bố tôi ký tên ông nội vào). Và cũng năm 2002 với chính sách và thủ tục đó bố tôi được UBND huyện cấp giấy chứng nhận đất (vì lúc đó quản lý đất đai ở chính quyền là vậy). Năm 2003 ông nội tôi mất không để lại di chúc ( Vì trước năm 1994 mãnh đất đó đang mang tên ông nội tôi). Năm 2012 bố tôi có viết một tờ giấy cho em gái của bố 100m2 đất với nội dung: Là thực hiện di chúc của ông nội tôi nên 6 anh em thống nhất cho em gái của bố 100m2 đất; cuối biển bản 6 anh, em của bố ký tên vào hết; nhưng giấy này không có chứng thức và xã xác nhận. Hiện tại bố tôi không muốn cho mãnh đất đó nữa vì em gái của bố sau khi nhận đất muốn bán cho người khác. Vây xin luật sư bớt chút thời gian giải đáp cho tôi một số điều: Em gái và các anh, em của bố tôi muốn lấy 100m2 và đồng thời muốn kiến toàn bộ mãnh đất đó có được không ? Ra tòa án thì bố tôi có bị thu hồi giấy sử dụng đất đó không ? Xin chân thành cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mdi ục Tư vấn Luật đất đai của Nptlawyer.com ;.

>> Luật sư tư vấn Luật đất đai trực tuyến gọi :

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Nptlawyer.com ;. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

 

1. Căn cứ pháp lý:

Luật đất đai số 45/2013/QH13 của Quốc hội

Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội

2. Nội dung phân tích:

Thứ nhất, theo Điều 649 của Bộ luật Dân sự 2005 quy định về hình thức của di chúc:

Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng.

Người thuộc dân tộc thiểu số có quyền lập di chúc bằng chữ viết hoặc tiếng nói của dân tộc mình.

Và Điều 652 quy định về Di chúc hợp pháp:

1. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;

b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực.

Theo bạn đề cập bố bạn viết một tờ giấy cho em gái của bố 100m2 đất với nội dung: Là thực hiện di chúc của ông nội bạn, 6 anh em thống nhất cho em gái của bố 100m2 đất; cuối biển bản 6 anh, em của bố ký tên vào hết; nhưng giấy này không có chứng thức và xã xác nhận. Tuy nhiên tham chiếu theo các căn cứ trên thì di chúc của người bị hạn chế về thể chất phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực/hoặc là di chúc bằng miệng thể hiện ý chí mong muốn của ông bạn thì khi thực hiện di chúc miệng phải có ít nhất 2 người người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ và trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực. Có nghĩa là dù trong trường hợp nào thì di chúc cho mảnh đất này cũng cần công chứng, chứng thực. Tuy nhiên, với tình huống của bạn thì ông không để lại di chúc, do đó việc bố bạn viết giấy cho em gái 100m2 đất thì giấy tờ di chúc cho 100m2 này chưa tuân theo quy định của pháp luật.

Thứ hai, như bạn đã cung cấp, người em gái muốn chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho người khác thì người em gái phải có đầy đủ giấy tờ liên quan mới có thể chuyển nhượng, trong đó có bản sao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (có chứng thực) mang tên người em gái này. Do đó nếu phần đất này đã mang tên em gái bố bạn thì việc đòi lại mảnh đất này là chưa hợp lí.

Thứ ba, theo Điều 106 của Luật Đất đai 2013 thì:

2. Nhà nước thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp trong các trường hợp sau đây:
a) Nhà nước thu hồi toàn bộ diện tích đất trên Giấy chứng nhận đã cấp;
b) Cấp đổi Giấy chứng nhận đã cấp;
c) Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất mà phải cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;
d) Giấy chứng nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai, trừ trường hợp người được cấp Giấy chứng nhận đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai.
3. Việc thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp đối với trường hợp quy định tại điểm d khoản 2 Điều này do cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất quy định tại Điều 105 của Luật này quyết định sau khi đã có kết luận của cơ quan thanh tra cùng cấp, văn bản có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giải quyết tranh chấp đất đai.

Điều này được hướng dẫn chi tiết, cụ thể Điều 87 Nghị định 43/2014/NĐ-CP. Qua các căn cứ trên bạn có thể xác định được bố bạn có bị thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay không.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số:  hoặc gửi qua email: [email protected]  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Nptlawyer.com ;.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận Luật sư đất đai. 

Related posts

Tư vấn sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ?

NP Tú Trinh

Một số vấn đề đổi mới pháp luật về vi phạm hành chính ở nước ta hiện nay

NP Tú Trinh

Các hành vi bị nghiêm cấm trong Luật đất đai 2003 ?

NP Tú Trinh

Việt kiều nhờ người khác đứng tên sở hữu nhà, phát sinh tranh chấp xử lý như thế nào?

NP Tú Trinh

Có được giảm tiền sử dụng đất lần hai ?

NP Tú Trinh

Giảm 15% tiền thuê đất cho đối tượng bị ảnh hưởng dịch Covid-19

NP Tú Trinh

Quyền tiếp cận thông tin trong các giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất

NP Tú Trinh

Các đối tượng người nước ngoài được mua nhà tại Việt Nam

NP Tú Trinh

Các hạng mục của dự án BOT có được chỉ định thầu không ?

NP Tú Trinh

This website uses cookies to improve your experience. We'll assume you're ok with this, but you can opt-out if you wish. Accept Read More